12 tên gọi của nước ta qua những giai đoạn lịch sử

3117 cf53dc303e28a8778a39884b930b85c7 2

12 tên gọi của nước ta qua những giai đoạn lịch sử

Qua mỗi quá trình lịch sử, nước ta mang 1 quốc hiệu (tên nước) khác nhau. Mời những bạn cùng xem bài viết sau đây.

Trên toàn cầu này, chẳng mang đất nước nào không mang tên nước (quốc hiệu). Bởi đó là cái để phân biệt nước này sở hữu nước kia, là cái để ta yêu thương, ta xây đắp, ta kiêu hãnh và ta hướng về nguồn gốc cha ông. Việt Nam, 1 quốc gia hơn 4 ngàn năm văn hiến anh hào đã trải qua đa dạng quốc hiệu khác nhau trong những giai đoạn lịch sử. Sau đây là các quốc hiệu mà bất kỳ người nào với dòng máu Việt cũng nên biết:

1. Xích Quỷ – Tên nước ta thời vua Kinh Dương Vương

3117 035323633c997632c2ec545150320fa4 1

Theo truyền thuyết, những tài liệu và thư tịch cổ, năm 2879 Trước Công nguyên, Kinh Dương Vương lên ngôi vua, lập lên Nhà nước Xích Quỷ – nhà nước nguyên sơ độc lập mang chủ quyền trước tiên của dân tộc ta. Kinh Dương Vương kết giao sở hữu Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm). Sau đó, Lạc Long Quân kết giao sở hữu Âu Cơ sinh ra những vua Hùng.

2. Văn Lang – Tên nước ta thời những Vua Hùng

3117 83ae8530360e8e42e2602273c24b63b5 2

Lúc đầu thời đại đồng thau, mang khoảng 15 bộ Lạc Việt sinh sống chính yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong số những bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra hợp nhất toàn bộ những bộ lạc Lạc Việt, dựng lên Nhà nước Văn Lang, xưng vua – mà sử cũ gọi là Hùng Vương,  kinh thành đặt ở Phong Châu. 

Quốc hiệu Văn Lang với ý nghĩa gì? Hiện giờ mang đa dạng cách giải thích khác nhau.  Theo ý tôi, lang là lan tỏa, văn là văn hóa. Văn Lang tức là căn do văn hóa với sức mạnh lan tỏa. 

Thời kì còn đó của nước quốc hiệu Văn Lang còn đó khoảng 2.671 năm khoảng ban đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ III trước Công nguyên.

3. Âu Lạc – Tên nước ta thời vua An Dương Vương

3117 6464d037508ad2b15d87a6fc6949b401 2

Sau khi khiến Tần Thủy Hoàng phải lui quân chịu thất bại trong mưu mô xâm lăng nước ta vào năm 208 trước công nguyên, Thục Phán bằng điểm cộng của mình đã xưng vương (An Dương Vương), kết liên những bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước Âu Lạc (tên ghép hai chữ của hai bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt). Quốc hiệu Âu Lạc còn đó 50 năm từ 257 trước CN  đến 207 trước CN

4. Vạn Xuân – Tên nước ta thời nhà tiền Lý và nhà Ngô

3117 1c6689dba6b278cf88206bd3bc860de6 2

Vào mùa Xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, phóng thích được bờ cõi. Đến tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy biệt hiệu là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân (Có ý nghĩa quốc gia vững bền vạn mùa Xuân), khẳng định niềm tự trọng dân tộc, ý thức độc lập và mong muốn quốc gia được vững bền muôn thuở.

Chính quyền Lý Bí còn đó không lâu thì thất bại, nước ta rơi vào vòng đô hộ của những triều đạiTrung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân trải qua đa dạng thăng trầm và được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng thắng lợi Bạch Đằng năm 938. 

3117 60f78079bfe0c6e909b4f8e547befd93 2

5. Đại Cồ Việt – Tên nước ta thời nhà Đinh

3117 4ec0eae213293bcdb17448adf582ae3a 2

Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân cát cứ, hợp nhất quốc gia, lên ngôi Hoàng đế và cho đổi quốc hiệu là Ðại Cồ Việt (Đại tức là lớn, Cồ tức là lớn, bởi thế tên nước ta mang tức là nước Việt lớn). Ta cũng thấy lần trước tiên nhân tố “Việt” được mang trong quốc hiệu

Tên nước Đại Cồ Việt còn đó 86 năm (968-1054) trải qua suốt đời Ðinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).

6. Đại Việt – Tên nước ta thời nhà Lý, nhà Dương gian, sau đó sang thời nhà Hồ thì bị đổi thay

3117 2d8053e6d3e736abcd24656ea2d36143 2

Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện 1 ngôi sao sáng chói đa dạng ngày mới loại bỏ, nhà Lý (Lý Thái Tông) liền cho đổi tên nước thành Đại Việt (nước Việt lớn, nhân tố “Việt” tiếp diễn được khẳng định), và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Dương gian thì bị đổi thay.

7. Đại Ngu – Tên nước ta thời nhà Hồ

3117 875f875679531df7ac2e4ec3b2d15302 2

Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất vua TrầnThiếu Đế lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Đại Ngu (“Ngu” tiếng cổ mang tức là “sự yên vui”). Quốc hiệu đó còn đó cho đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4/1407). 

8. Đại Việt – Lại được sử dụng làm quốc hiệu nước ta vào giai đoạn Hậu Lê và nhà Tây Sơn

3117 ae6244584511bd46c62b53a86c393d88 2

Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Ðại Việt (bờ cõi nước ta lúc này về phía Nam đã tới Huế). Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1802).

Tính cả nhà Lý, Dương gian, Hậu Lê vàTây Sơn, quốc hiệu ĐẠI VIỆTcủa nước ta còn đó 748 năm (1054-1804)

9. Việt Nam – Tên nước ta thời Nhà Nguyễn tính từ năm 1804-1884

3117 b81976ae42db81961788957545c46aac 2

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua và sau đó cho đổi tên nước là Việt Nam. Sách Đại Nam thực lục chép: “Giáp Tý, Gia Long năm thứ 3 (1804), tháng 2, ngày Đinh Sửu, đặt Quốc hiệu là Việt Nam, đem việc cáo Thái Miếu. Xuống chiếu thông cáo trong ngoài”. 

Tên gọi Việt Nam với ý nghĩa chỉ đất nước của người Việt ở phương Nam để phân biệt sở hữu đất nước của các đứa ở phương Bắc.

Quốc hiệu Việt Nam còn đó 80 năm (1804-1884). Ngoài ra, hai tiếng “Việt Nam” lại thấy xuất tương đối sớm trong lịch sử nước ta như là trong những tài liệu,  tác phẩm của  trạng nguyên Hồ Tông Thốc (cuối thế kỷ 14), Nguyễn Trãi (đầu thế kỷ 15), trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585),…

10. Đại Nam – Tên nước ta thời vua Minh Internet nhà Nguyễn

3117 9b7b489586650748c7974f5304c87a85 2

Ðến đời vua Minh Internet (1820-1840), quốc hiệu được đổi thành Ðại Nam (với ý nghĩa nước Nam lớn). Tuy vậy, hai tiếng “Việt Nam”vẫn được sử dụng phổ thông trong những tác phẩm văn chương, trong đa dạng đàm phán dân sự và quan hệ xã hội. Quốc hiệu này còn đó trên lý thuyết 107 năm từ năm 1838 đến năm 1945

11. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Tên nước ta trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975)

3117 dba6ee033c1e7af10b3a318cb331ae91 2

Ngày 19/8/1945, Cách mệnh Tháng Tám thành công, lật đổ hoàn toà nách cai trị phong kiến và thực dân, mở ra 1 kỷ nguyên mới. Khoảng 14h ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Quốc hiệu này khác sở hữu những quốc hiệu khác ở chỗ gắn sở hữu thiết chế chính trị (dân chủ cộng hòa) mô tả thực chất và mục đích của nhà nước là quyền dân chủ, tự do, công bằng cho toàn bộ mọi người. 

12. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Tên nước ta từ năm 1976 đến giờ

3117 cf53dc303e28a8778a39884b930b85c7 2

Ngày 30/4/1975, miền Nam được phóng thích, quốc gia được hợp nhất. Ngày 02/7/1976, trong kỳ họp trước tiên của Quốc hội nước Việt Nam hợp nhất, toàn thể Quốc hội đã tán thành lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Quốc hiệu này, cũng như quốc hiệu trước đó, gắn sở hữu thiết chế chính trị (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa) và với ý nghĩa mô tả tiêu chí tiêu vươn tới 1 xã hội tốt đẹp hơn.

Trên đây là các tên gọi nước ta (quốc hiệu) mà chẳng hề người Việt nào cũng đã biết. Hãy san sẻ bài viết để mọi người đều hiểu thêm về căn do quốc gia linh nghiệm bạn nhé!

Dương gian Giảng (Tổng hợp và biên soạn)

XEM THÊM:

Chủ đề chính: #tên_nước

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You May Also Like